Trên thế giới, có nhà nước nào bao cấp cho đại học không?

giả định giữ nguyên tỷ lệ này thì ngân sách Nhà nước cũng phải tăng lên trên 2 lần. Đây là một tính toán không thực tại.

Từ những đặc trưng gia sư dạy vật lý  nói trên của nhà sản xuất giáo dục đại học, hồ hết các quốc gia trên thế giới ngày nay đều đặt ra bài toán “chia sẻ chi phí” (cost sharing) trong giáo dục đại học, tức thị giá bán hãng sẽ được san sẻ như thế nào giữa Ngân sách Nhà nước; Phần người học phải chi trả và và phần đóng góp của cộng đồng.

không những thế, do truyền thống, do đặc điểm cũng như do cách lựa chọn chính sách của từng nước, sự san sẻ lại khá khác nhau giữa các nước.

ban đầu ta thấy, mức tổng chi cho giáo dục đại học so với GDP cũng như tỷ lệ phần ngân sách Nhà nước trong tổng chi là hơi khác nhau giữa các nước (xem Bảng 3). Nhưng chẳng hạn tính đến sự khác nhau về tỷ lệ SV trong độ tuổi (từ 13-60%) thì tỷ lệ giá bán đơn vị/GDP-đn là chênh lệch nhau không lớn, trừ trường hợp của Mỹ.

Mỹ là một trường hợp rất đặc trưng. Một là tổng chi cho giáo dục đại học ở đây rất lớn, chiếm đến 2.9% GDP. Hai là tỷ lệ phần ngân sách Nhà nước trong tổng chi lại ở mức làng nhàng, chỉ có 42.8%.

Có được tỷ lệ này là do ở Mỹ có truyền thống cho tặng đối với giáo dục đại học. gần như các đại học lớn ở Mỹ, đặc trưng là các đại học tư thục độc lập không vì lợi nhuận đều có vốn đầu tư cho tặng rất lớn, gọi là Endowment.

Bảng 3: giá bán cho giáo dục đại học so với GDP

Theo số liệu Báo cáo năm 2005, Endowment ở các ĐH Mỹ như sau: ĐH Harvard 25 tỷ đô la Mỹ, Yale 15 tỷ USD, Stanford 12 tỷ USD…, có khoảng 35 trường ĐH có Endowment tính trên đầu SV lớn hơn 100.000 đô la. cơ sở ĐH chỉ được phép tiêu dùng tiền sinh lời từ nguồn vốn này(7).

Từ đó, cấu trúc “Chia sẻ chi phí” năm 2000 ở ĐH công lập và dân lập của Mỹ như sau:

Hình 5: san sẻ giá tiền trong giáo dục đại học ở Mỹ (2000)

khi mà đó, mức tổng chi cho giáo dục đại học ở đông đảo các nước OECD chỉ khoảng 1,6-1,7% GDP và tỷ lệ phần ngân sách Nhà nước trong tổng chi bình quân lại lên đến 78.2%.

Tỷ lệ này ở các Nhà nước Châu Âu phúc lợi còn cao hơn nữa, ví dụ như Pháp đạt đến 83.7%. Ở các nước này, giáo dục đại học đầy đủ không tính phí đối với người học.

Nhưng xin lưu ý, ở các Nhà nước Châu Âu phúc lợi, phần tổng ăn tiêu của Chính phủ chiếm đến trên dưới 50% của GDP (Thụy Điển 56.7%, Pháp 53.7%, Đức 47%, Cuba 59.7%.

thực chất ăn xài của Chính phủ chính là tiền thuế từ công ty và nhân dân. Cũng chính vì thế, khi đề cập về học phí ĐH, nghi vấn luôn đặt ra ở các nước này là: “Tăng thuế hay tăng học phí?”

Bảng 4: tiêu xài của Chính phủ so với GDP (2004)

Đây là vấn đề có tính truyền thống tốt đẹp của các Nhà nước Châu Âu phúc lợi nhưng cùng lúc cũng là chướng ngại ở các nước này trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu.

Với các nước ở Châu Á tình hình lại hoàn toàn khác. Ở đây mức “chi tiêu của Chính phủ” so với GDP rất rẻ (Năm 2004; Đài Loan 15.3%, Malaysia 26.5%, Việt Nam 26.7%, Hàn Quốc 28.1%.…) so với mức bình quân của toàn cầu 31%; rất khác với các “Nhà nước Châu Âu phúc lợi”.

do đó, người ta cho rằng, ở đây Nhà nước chỉ đủ sức ưu tiên cho giáo dục phổ cập và một số ngành ưu ái về khoa học-kỹ thuật. Với giáo dục trung học phổ thông và giáo dục đại học, cốt yếu là gia đình và người học phải gánh chịu (“User-pays Principle”).

Nhiều nhà kinh tế giáo dục của Mỹ cũng cho rằng: “Thiếu hạ tầng triết lý và kinh tế để bắt buộc cung ứng nhà cung cấp giáo dục đại học bằng ngân sách Nhà nước [John L. Yeager et all].

Đấy cũng chính là những ý tưởng chính của “mô hình Nhật Bản” (J-model). Với mô hình này phần ngân sách Nhà nước chi cho giáo dục đại học chỉ chiếm khoảng 10% trong tổng ngân cách thức Nhà nước dành cho giáo dục và khoảng 25-36% của tổng chi cho giáo dục đại học.

mô hình này cũng đã lan tỏa sang Hàn Quốc, Đài Loan từ cuối những năm 1970 và sang Malaysia, Indonesia, Singapore từ cuối những năm 1980.

“Chia sẻ chi phí” cho giáo dục đại học Việt Nam

Tiếp theo là việc lấy đâu ra để có giá tiền đơn vị là 1.200 USD (năm 2009) trong điều kiện của Việt Nam? Điều này liên quan đến bài toán “Chia sẻ chi phí” (Cost Sharing) trong nguồn vốn cho giáo dục đại học như đã nói ở trên, tức thị tỷ lệ san sẻ giá bán như thế nào giữa:

Phần ngân sách Nhà nước; Phần người học phải chi trả, và phần đóng góp của cộng đồng, nói cả đóng góp của chính hạ tầng ĐH qua hoạt động khoa học và các hoạt động có thu khác.

Hình 7: Nguồn nguồn vốn của giáo dục đại học Việt Nam (2002)

Theo ước lượng gần đúng, tỷ lệ các phần này ở các ĐH công lập của Việt Nam trong một số năm mới đây là khoảng 55%, 42% và 3%, một cách thức tương ứng (Hình 7).

giả tỉ giữ nguyên tỷ lệ này thì ngân sách Nhà nước cũng phải tăng lên trên 2 lần. Đây là một tính toán không thực tiễn, tỷ lệ ngân sách Nhà nước dành cho giáo dục đã đạt đến Báo cáo 20% và giáo dục đại học cũng khó lòng dành ưu tiên ngân sách Nhà nước so với giáo dục phổ cập cũng như các ngành an sinh phường hội khác như y tế, giảm nghèo… bởi thế, rẻ cần vận dụng “mô hình Nhật Bản” (J – model)?

Khi đó, với thành phần thứ (1) – ngân sách Nhà nước, nếu Việt Nam có sinh viên ở ĐH dân lập chiếm 30 – 40% vào 2010 như dự trù trước năm 2005 (tỷ lệ ngày nay vẫn dưới 15%!) và dồn thêm ngân sách Nhà nước cho 60 – 70% sinh viên ở các Đại học công lập, giảm tỷ lệ 55% kể trên xuống khoảng 25 – 35% như ở nhiều nước của Châu Á.

tất nhiên đó là việc tăng tiến hiệu quả trong phân phối ngân sách Nhà nước cũng như sử dụng tài chính ở các cơ sở vật chất ĐH vv…, thì vốn đầu tư ngân sách Nhà nước dành cho giáo dục đại học vẫn có thể giữ nguyên như Báo cáo bây giờ.

Với thành phần thứ ba – đóng góp của cộng đồng, một mặt Việt Nam hiện chưa có truyền thống cho tặng cho giáo dục đại học như ở Mỹ, Nhật vv…, mặt khác hoạt động khoa học và dịch vụ của các cơ sở ĐH cũng chưa có hiệu quả, nên hy vọng tăng quá cao tỷ lệ này cũng thiếu thực tế.

dù thế, vẫn nên đặt chỉ tiêu là khoảng 15%.

nghị quyết 14 của Chính phủ năm 2005 về đổi mới basic và toàn diện giáo dục đại học giai đoạn 2006 – 2010 cũng đã có đề xuất “tăng tỷ lệ đóng góp của các cơ sở vật chất ĐH về hoạt động công nghệ – kỹ thuật lên tối thiểu là 15% vào năm 2010 và 25% vào năm 2020 trong trong tổng thu” của giảng đường.

Để có được Báo cáo này, có nhẽ Nhà nước, bên cạnh chính sách miễn thuế cho tặng đối với giáo dục đại học, cần có chính sách vun đắp “vốn cho tặng” (Endowment) ở các cơ sở giáo dục đại học.

do vậy, tỷ lệ của thành phần (2) – đóng góp của SV và gia đình sinh viên sẽ vào khoảng 50 – 55%. Điều này có nghĩa, học phí ở ĐH công lập bình quân sẽ phải tăng lên hơn 3 lần so với ngày nay.

Năm 2007, UNDP Việt Nam cũng đã có một nghiên cứu về an sinh thị trấn hội, kết quả cho thấy: Có đến 35% ngân sách Nhà nước trợ cấp cho giáo dục đã chảy vào con em của lớp 20% dân cư giàu nhất, nhưng chỉ có 15% chảy vào con em của lớp 20% dân cư nghèo nhất (!).

thực tiễn thế giới cho thấy, cấu trúc “chia sẻ chi phí” thường là khác nhau cho các loại trường khác nhau. Ví dụ, trong trường hợp của Thái Lan, chi phí nhà sản xuất cho ĐH công truyền thống(14) gấp đến 2 lần giá tiền hãng ở ĐH kỹ thuật nhưng mức học phí lại chỉ xấp xỉ bằng nhau.

Còn ở Mỹ tỷ lệ học phí trên tầm giá hãng ở các lớp trường khác nhau cũng rất khác nhau (Bảng 4), biến thiên từ 20,1% cho đến 77,4%.

Lớp trường

Cost “E&G&K”

HP

Price/Cost (%)

rất nhiều ĐH

Công lập

tư thục

Lớp 1

Lớp 3

Lớp 6

Lớp 10

12.000

9.900

14.200

28.500

12.300

9.400

7.900

3.800

1.200

6.500

5.700

3.000

2.900

6.100

31,5

12,4

45,9

20,1

24,4

30,8

77,4

Bảng 4: Tỷ lệ học phí (“Giá bán”) trên CPĐV (“Giá thành”)
ở các lớp trường ĐH khác nhau của Mỹ (1995)

Có thể cho rằng, thực chất của sự khác nhau này là tùy thuộc vào đặc biệt các “sản phẩm” của các trường ĐH đó về chừng độ “tác động ngoại biên” cũng như mức độ công cộng.

Ví dụ, một ĐH định hướng nghiên cứu mà sản phẩm của nó chủ yếu là tri thức khoa học cơ bản như toán học giả thiết (là hàng hóa công cộng như ở Hình 3 bài trước) thì tỷ trọng học phí trong giá tiền hãng cần phải rất phải chăng (15). toàn cầu gọi đây là “Chính sách học phí biến đổi”.